Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương

Chia sẽ

Tên gọi Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương bởi vì tại 4 chiếc cầu này, Trên con đường có 4 cây cầu , mỗi cầu có lót 4 tấm ván dài 6 tầm x 1,825 = 10,950 m, diện tích mỗi tấm ván là 5 thốn x 2,4m2 = 12m2.Vị trí 4 cây cầu là : cầu 1 ở đầu đường Cử Trị hiện nay, cầu 2 nằm ở ngả tư Trường Đua gần con lộ mới mở hiện nay. Cầu 3 là cầu cây số 2, cầu 4 là cầu cây số 4. Hai cầu 1 và 2 được phá để thông đường từ thời Pháp khoảng đầu thập kỷ 1920. Cầu cây số 2 và cây số 4 mới vừa lấp trong vài năm gần đây.những ghe xuồng của nông dân trên cánh đồng xung quanh núi Sam sẽ cập bến tại đây.

Lương thực từ ghe xuồng sẽ chuyển qua xe ngựa vận chuyển đến nhà máy xay xát của ông Lê Công Thoàn nằm trên đường Nguyễn Đình Chiểu gần Hàn Lâm Miếu mà người dân xóm này thường được gọi dưới cái tên là ” xóm Hàng Xáo” . Tên gọi này những người cố cựu sống ở đây mới nắm rõ bởi vì sau này nhà máy xay xát của ông Lê Công Thoàn dời về xóm Châu Long gần chùa Châu Long trên đường dọc theo bờ sông Hậu. Quan hệ giữa ông Thoại Ngọc Hầu và dòng họ Lê Công rất gắn bó nên khi người nông dân ở hai bên bờ kinh Vĩnh Tế trong mấy năm đầu thất mùa vì gặp phèn. Bà Huỳnh thị Phú là vợ ông Lê Công Thoàn đứng ra xin ông Thoại Ngọc Hầu cho vay 2 hộc quân lương để cứu tế cho người dân bị đói và cam kết sẽ đem tài sản gia dình ra thế chấp. Sở dĩ bà Huỳnh thị Phú dám đưa ra phương án táo bạo này bởi vì gia đình của bà có nhà máy xay xát. Khi nông dân thu hoạch vụ mùa sẽ chở lúa đến nhà máy của gia đình bà để trả nợ đã vay. Lúa sau khi được xay xát sẽ vận chuyển ra bến đò Cồn Tiên gần thành Châu Đốc và phân phối đi các nơi. Mặc dầu phương án này được triều đình Nhà Nguyễn chấp nhận và khen ngợi lòng thương dân của bà Huỳnh thị Phú . Ông Lê Công Thoàn sau này được phong làm Tiền Hiền làng Châu Phú và con trưởng của ông là Lê Công Bích sau này gia nhập quân đội làm chức Tổng Binh được phong làm Hậu Hiền làng Châu Phú còn em ông Lê Công Bích là ông Lê Công Thành dược đặt tên đường trong nội ô tp Châu Đốc. Dòng họ Lê Công còn được vinh dự là được giữ sắc phong của Nguyễn Hữu Cảnh tại phủ thờ. Thế nhưng sau khi mất , ông Thoại Ngọc Hầu lại bị Võ Du tố cáo là tự ý đem quân lương cho vay và bị kết tội phải phát mãi gia sản, giáng 4 cấp từ Chánh nhị phẩm xuống Tòng tứ phẩm. Án oan này đến đời Thiệu Trị mới được giải oan và mãi đến đời Khải Định ông mới được phong làm Thành Hoàng làng Vĩnh Tế.

Ngôi nhà trăm tuổi ở Châu Đốc
Lê công phủ đường – Nhà lớn Châu Đốc
Bia văn Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương do Ông Lâm Thanh Quang vẽ lại

Bản này đã được hiệu chỉnh từ bản của ông Trần văn Hanh do hội Nghiên Cứu Đông Dương xuất bản năm 1905 nằm ở phía sau bản Vĩnh Tế Sơn. Có lẽ là khi ông Trần văn Hanh đến nhà Tú Tài Trần Hữu Thường chép lại bia văn Vĩnh Tế Sơn đã chép luôn bản văn này mà không ngờ rằng nó chính là bản Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương tưởng chừng như đã thất truyền. Nhờ vậy mà chúng ta có được bản bia văn này và có thể tiến hành làm bản sao Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương để cho các nhà nghiên cứu tham khảo. Tuy nhiên trong bản chép của ông Trần văn Hanh có một vài chữ chưa chính xác. Chúng tôi căn cứ những chữ còn sót lại trên bia để hiệu chỉnh lại. Tuy nhiên do bia đã bị bể chỉ còn tìm lại dược 2 mảnh nên những chữ còn sót lại trên bia thì có thể kiểm tra được, còn những chữ không còn trên bia thì đành chịu thua. Nhờ vào những chữ phần trên của bia ta có thể xác định chính xác tên bia là Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương chứ không phải Châu Đốc Sơn Lộ Kiều Lương như Ngạc Xuyên Ca văn Thỉnh đã lầm. Tôi chỉ đưa ra bản Hán văn và bản phiên âm còn bản dịch nghĩa xin nhờ Diệu thủ Thư Sinh Brian Wu và các bạn dịch dùm. Cám ơn nhiều.

Bản chữ Hán Châu Đốc Tân Lộ Kiều Lương do Lâm Thanh Quang hiệu chỉnh.
朱篤新路橋粱
傳 有 徒 杠 與 粱 凡 以 便 人 也o 州 郡 村 邑 大 小 不 同 而 道 橋 之 所 以 便 人 則 壹 王 周 有 言 橋 粱 不 修 剌o 史 過 故 創 造 修 治 皆 在 守 土 之 臣 所 宜 致 意 焉o
聖 朝 開 拓 疆 宇 曁(1) 訖 朔 南 其 於 道 路 橋 粱所 在 城 營 鎮 道 無 不 整 理o
朱 篤 屯 守 臣 瑞 玉 矦 欽 奉 特 攽 按 守 是 屯 之 初 涇 奉 旨 諭 於 此 屯 隨 界 地 立 邑 歸 民 居 聚 以 寔 邊 其 間 各 路 以 成 里 落 並 有 溪 徑 通 行o 惟 永 濟 山 林 與 山 (2) 麓 林 隴 僑 客 舍 廛 距 屯 壹 望 之 地 而 中 膈 壹 泓 瀦 水 深 不 可 涉 趁 墟 歸 洞 不 免 周 楫 之 難o
昔 蘇 東 坡 守 杭 積 葑 爲 題 亘 之 西 湖 至 今 尚 在o 况 此 山 壹 撢 豈 容 恬 使 阻 礙o 即 具 事 申 達 既 獲 所 請 乃 建 度 壹 條 路 由 永 濟 山 踋 橫 截 雁 水 達 屯 營 边 長 貳 千 七 百 尋 以 抵 江 津 高 準 八 尺 橫 面 四 尋 開 脚 倍 之o
爰 捐 官 俸 附 以 家 貲 以 洪 備 擀 支(3) 費 以 丙 戌 年 拾 弍 月 拾 弍 日 起 築 用 人 凡 三 千 四 百o 至 丁 亥 年 四 月 拾 五 日 路 成o
兹 年 又 加 掊 補 充 雇 役 壹 千 人 自 正 月 拾 八 日 至 四 月 拾 五 日 告 竣o 凡 此 土 功 傭 人 每 月 錢 壹 貫 米 壹 方o 且 於 路 間 通 水 四 段 各 架 板 橋 每 段 列 版 四 片 長 六 尋 其 厚 五 寸o 蓋 欲 堅 寔 固 致 以 便 于 人(4) 民 負 載 步 安 轍 蹄 行 稳O 水 湄 碧 草 不 勞 喚 渡 之 聲 岸 裡 缘 陰 無 事(5) 撑 舟 之 力O 晨 霜 留 跡 月 夕 随 跟 亦 壹 大 方 便 門 庶 少 酬 蒭 牧 壹 事 耳O 故 叙 其 用 心 著 力 者 镌 之 于 石 永 爲 御 識O 淚 珠 望 他 壹膺 是 任 覩 是 跡 思 王 周 之 言 以 爲 心 則O 雖 此 僻 方 橋 道 亦 與 山 間 明 月 江 上 清 風 人 皆 取 法 無 窮 賮 而 無 貽 溱 洧 濟 人 之 誚 矣O 是 爲 記O
明 命 九 年 仲 秋 月 下 浣
Bản dịch âm của Lâm Thanh Quang
CHÂU ĐỐC TÂN LỘ KIỀU LƯƠNG.
Truyền hữu đồ giang dữ lương phàm dĩ tiện nhân dã. Châu quận thôn ấp đại tiểu bất đồng nhi đạo kiều chi sở dĩ tiện nhân tắc nhất. Vương Châu hữu ngôn kiều lương tu thích sử quá dã. Cố sáng tạo tu trị giai tại thủ thổ chi thần sở nghi trí ý yên.
Thánh triều khai thác cương vũ kỵ(1) ngật sóc Nam Kỳ ư đạo lộ kiều lương sở tại dinh thành trấn đạo vô bất chỉnh lý. Châu Đốc đồn thủ, thần Thoại Ngọc Hầu khâm phụng đặc ban án thủ thị đồn chi sơ kinh phụng chỉ dụ ư thử đồn tùy giới địa lập ấp qui dân cư tụ dĩ thật biên, kỳ gian các lộ dĩ thành lý lạc tịnh hữu khê kinh thông hành. Duy Vĩnh Tế Sơn lâm dữ sơn(2) lộc lâm lũng kiều khách xá triền cự đồn nhất vọng chi địa nhi trúng cách nhất hoằng trư thủy, thâm bất khả thiệp, sấn khư qui động , bất miễn châu tiếp chi nan.
Tích Tô Đông Pha thủ Hàng tích phong vi đề tuyên hàng chi Tây Hồ, chí kim thượng tại. Huống thử sơn nhất đàm khởi dung điềm sử trở ngại ? Tức cụ sự thân đạt ký hoạch sở thỉnh nãi kiến độ nhất điều lộ, do Vĩnh Tế sơn cước hoành triệt nhạn thủy đạt đồn doanh biên trường nhị thiên thất bá tầm dĩ để giang tân cao chuẩn bát xích, hoành diện tứ tầm, khai cước bội chi, viên quyên quan bổng phụ dĩ gia ti dĩ cung bị cán chi (3) phí. Dĩ Bính Tuất niên thập nhị nguyệt , thập nhị nhật khởi trúc dụng nhân phàm tam thiên tứ bá. Chí Đinh Hợi niên tứ nguyệt thập ngũ nhật lộ thành.
Tư niên hựu gia bồi bổ, sung cố dịch nhất thiên nhân, tự chánh nguyệt thập bát nhật chí tứ nguyệt thập ngũ nhật cáo thuyên. Phàm thử thổ công dung nhân mỗi nguyệt tiền nhất quán, mễ nhất phương. Thả ư lộ gian thông thủy tứ đoạn các giá bản kiều, mỗi đoạn liệt bản tứ phiến trường lục tầm kỳ hậu ngũ thốn, cái dục kiên thật cố trí dĩ tiện vu nhân(4) dân phụ tải bộ an triệt để hành ổn. Thủy mi bích thảo bất lao hoán độ chi thanh, ngạn lý duyên âm vô sự(5) xanh châu chi lực. Thần sương lưu tích, nguyệt tịch tùy cân, diệc nhất đại phương tiện, môn thứ thiểu thù, sô mục nhất sự nhĩ. Cố tự kỳ dụng tâm trước giả tuyên chi vu thạch vĩnh vi ngự thức. Lệ châu vọng tha, nhất ưng thị nhậm đỗ thị, tích tư Vương Châu chi ngôn dĩ vi tâm tắc. Tuy thử tịch phương kiều đạo, diệc dữ sơn gian minh nguyệt, giang thượng thanh phong, nhân giai thủ pháp vô cùng tận nhi vô di trăn vị tế nhân chi tiếu hĩ . Thị vi ký.
Minh Mạng cửu niên ,trọng thu nguyệt, hạ hoán.
GHI CHÚ :
(1) Trong bản Hán văn của Trần Hoàng Vũ không ghi chữ kỵ (曁) này nhưng bản phiên âm lại ghi là chữ khải theo như bản của Trần văn Hanh ?
(2) Trong bản của Trần văn Hanh ghi thiếu chữ sơn (山) này so với đối chiếu chữ còn sót lại trên bia.
(3) Chữ chi (支) mới có nghĩa là chi phí. Ông Trần văn Hanh đã ghi sai thành chữ (之)này.
(4) Tương tự như trên bản Hán văn của Trần Hoàng Vũ ghi thiếu chữ nhân (人) trong khi bản của ông Trần văn Hanh ghi đúng chữ nhân như trên bia.
(5) Tương tự như trên bản Hán văn của Trần Hoàng Vũ ghi thiếu chữ sự (事) so với bản của ông Trần văn Hanh và trên bia.
An Giang ngày 19 tháng 03 năm 2017
Người biên dịch
Lâm Quang Hiển(Lâm Thanh Quang)