“Hùng Dũng Tướng” – Nguyễn Công Nhàn

Chia sẽ

“Hùng Dũng Tướng” – Nguyễn Công Nhàn,  danh tướng nhà Nguyễn với tài thao lược, giỏi về binh pháp và kinh nghiệm trận mạc. Ông còn là người chủ xướng việc đào kênh Vĩnh An ở An Giang, đem lại nhiều lợi ích kinh tế – xã hội.

Được đặc cách tặng tấm bài vàng “Hùng Dũng tướng”
Nguyễn Công Nhàn (?-1867) người huyện Phước Chánh, tỉnh Biên Hòa, là con của võ quan Khâm sai chánh quản Đồ gia Bắc Thành Nguyễn Công An, giỏi võ nghệ nên được học tại trường đào tạo Anh Danh giáo dưỡng ở Huế.
Nguyễn Công Nhàn trải thờ ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Với tài thao lược, giỏi về binh pháp và chiến trận, ông lập được rất nhiều chiến công trong việc dẹp yên các cuộc nổi loạn, đánh tan các cuộc xâm lược của quân Xiêm nhiều lần xâm lấn biên giới Trấn Tây.
Năm Minh Mạng thứ 19 (1839), Nguyễn Công Nhàn làm Phó Vệ úy Khánh Hòa, sung đi đóng thú ở Tiền Giang. Do có công trong việc truy quét bọn phản nghịch Man ở Khai Biên, giặc Sô Mịch ở La Ngốc, Trương Minh Giảng đem việc tâu lên, Nguyễn Công Nhàn được thăng Vệ úy, nhưng vẫn cai quản vệ binh lưu đóng thú ở đấy.
Năm 1840, Nguyễn Công Nhàn được bổ Phó Lãnh binh Trấn Tây, ông đã gia công phòng thủ, nắm bắt thời thế, rèn luyện binh sĩ, đánh lui hàng ngàn quân Xiêm xâm lược với nhiều trận nổi tiếng như Sa Tôn, Mi Súc, Tà Sà, cứu được tướng quân Đoàn Văn Sách bị thương nặng.
Vua Minh Mạng dụ rằng: “Công Nhàn lấy cô quân giữ đồn lâu mãi, giặc không dám phạm. Đến sau lúc giải vây, Sách gặp phục kích bị thương. Nhàn dấn thân giết giặc cứu Sách, đáng khen là dũng tướng. Chuẩn cho Nhàn một chiếc nhẫn vàng khảm mặt pha lê và một đồng kim tiền phù lang, lại gia cho một cấp quân công”… Với chiến công vang dội này, Nguyễn Công Nhàn được đặc cách tấm bài vàng có chữ “Hùng dũng tướng”.
Dụng binh ít nhưng tinh
Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), Nguyễn Công Nhàn được thăng thự chưởng vệ, sung Tham tán. Khi Trấn Tây không giữ được, Trương Minh Giảng rút toàn bộ lực lượng về đóng quân ở Châu Đốc, quan quân ở Trấn Tây bị giao bộ nghị xử. Nguyễn Công Nhàn do đảm nhiệm chức vụ thời gian ngắn nên chỉ phải giáng một cấp.
Mùa xuân năm 1842, Nguyễn Công Nhàn dụng binh ít nhưng tinh, đã đánh thắng giặc Xiêm trên kênh Vĩnh Tế, phá thế bao vây, bảo vệ vững chắc biên cương, đẩy lui chúng về bên kia biên giới. Vua Thiệu Trị khen: “Nhàn lấy quân một đạo mà đánh phá ba đồn sở của giặc, đã đánh là được, trí nghĩa vẹn toàn. Lập tức bổ làm Đô đốc An Giang”.
Sau đó vua có lời dụ rằng: “Viên đề thần ấy vâng mệnh giữ đường sông Vĩnh Tế, hầu hơn một tháng, vỗ về rèn tập quân lính, có sức mạnh lại biết lễ phép. Nay biết thời cơ trước, đánh phải lấy được, mạo hiểm phá giặc, khiến cho giặc không dám trông thẳng vào nữa. Một trận mà lập được kỳ công, huân danh càng tỏ”. Để tưởng công lao của Nguyễn Công Nhàn, vua hạ lệnh phàm các chương tấu, tờ từ được ghi chữ “Hùng dũng tướng” lên trên chữ họ tên.
Trong thời gian làm Đô đốc An Giang, ông đã khảo sát dân tình, việc đi lại từ sông Tiền qua sông Hậu quá khó khăn, phải đi vòng xuống sông Vàm Nao, mất thời gian, bất tiện, nhất là trong việc điều quân bảo vệ biên giới.
Trước thực trạng đó, tháng 10 năm 1843, ông hiệp cùng thự Tổng đốc Long Tường Nguyễn Tri Phương, Tuần phủ An Giang Nguyễn Công Trứ cùng xin vua cho khởi đào kênh Tân Châu (nay là kênh Vĩnh An) ở tỉnh An Giang. Được triều đình chấp thuận, ông chỉ huy đào kênh trong hai năm hoàn thành, đặt tên kênh Vĩnh An (do công sức của dân Vĩnh Long và An Giang).
Cuộc đời làm tướng nhiều thăng trầm, nhưng Nguyễn Công Nhàn được dân khen: Có thể lấy quân ít đánh quân nhiều; lại khéo dỗ quân lính, không nỡ khinh, dối, cho nên ai cũng đều vui.

Được khắc tên vào súng thần công
Tháng giêng năm 1844, hơn nghìn người Chân Lạp lại đến đắp đồn lũy ở biên giới An Giang. Tổng đốc Nguyễn Công Nhàn liền sai Lãnh binh Nguyễn Văn Hoàng đến đánh đồn Đa Phúc, Tuần phủ An Giang Nguyễn Công Trứ đến đánh đồn Cần Thăng.
Việc tuy xong, nhưng nhà vua trách cứ rằng: chỗ ấy ở vào khoảng giữa hai đồn, cách tỉnh thành không xa, cớ sao giặc Man đắp lũy ngầm mà các ngươi có trách nhiệm không từng biết đến! Chức vụ ở chỗ nào?…
Năm 1844, Đào Văn Quận ở An Giang gửi đơn kiện Nguyễn Công Nhàn về việc nhận hối lộ. Xét chuyện có thật, ông bị cách chức Tổng đốc An Hà, giáng bốn cấp, cắt lương một năm. Rồi vì không ưa Nguyễn Công Trứ, ông gửi sớ tâu rằng viên quan này đã lén phái người mua riêng sừng tê giác và đậu khấu.
Nhà vua sai Tham tri Trần Ngọc Giao đi tra vấn. Khâm sai về bẩm việc không đúng như lời tâu, ông mắc tội vu cáo bị xử phạt trượng, phát lưu. Tuy nhiên khi án dâng lên, nhà vua xét công trạng cũ cho giảm, nên chỉ bị cách hết chức tước, buộc đến làm việc dưới quyền của Tôn Thất Bá. Nhưng không bao lâu, ông được phục chức Hiệp quản vì “có công đánh loạn ác man”.
Năm 1845, ông được bổ làm Phó lãnh binh phủ Tây Ninh, năm sau (1846) lại được điều đi đánh đuổi quân Chân Lạp đang quấy nhiễu vùng biên giới An Giang.
Sau đó, do có thành tích chiến thắng ở Trấn Tây năm 1847, Nguyễn Công Nhàn được bổ Lãnh binh tỉnh Bình Định, được cấp trả lại kim bài “Hùng dũng tướng”, được tấn phong tước Trí thắng nam, cho khắc tên vào cổ súng đồng Thần uy phục viễn, vị thứ tư đặt tại kinh thành Huế.
Chiêu tập nghĩa dũng chống Pháp
Năm Tự Đức thứ 9 (1856), Nguyễn Công Nhàn được thăng Chưởng vệ, lãnh chức Tuần phủ Hà Tiên, kiêm Bố chính sứ. Đầu năm 1859, quân Pháp hãm thành Gia Định, Tổng thống quân vụ Tôn Thất Hiệp xin cho ông làm Đề đốc quân vụ để cùng chống ngăn quân xâm lược.
Ngày 17 tháng 2 năm 1859, thành Gia Định thất thủ. Tháng 7, Nguyễn Công Nhàn được bổ làm Hộ lý An Giang, rồi Tổng đốc Định Tường.
Ngày 26 tháng 3 năm 1861, Pháp tấn công Định Tường, Nguyễn Công Nhàn vừa tới Định Tường thì thành Mỹ Tho đã thất thủ. Ông phải thu thập quân binh rút về cố thủ ở Kiến Đăng.
Thành Mỹ Tho mất, ông bị tuần phủ Nguyễn Hữu Thành vu cho tội bỏ thành chạy, vua Tự Đức cho lột hết chức tước để chờ nghị tội nhưng vẫn ngầm yêu cầu ông lẻn về lỵ sở cũ để chiêu tập dân mưu báo phục về sau.
Đến tháng 12 cùng năm, Pháp đánh Biên Hòa, đình thần khi ấy đã tâu lên rằng: Công Nhàn vốn thạo việc trận, ở triều đình không ai hơn được. Xin gia ơn cho Nhàn phục quân vệ, sung làm đốc binh, theo Nguyễn Tri Phương đi Biên Hòa bàn làm việc quân.
Tháng Giêng năm Tự Đức thứ 15 (1862), vua đổi sai Đốc binh Nguyễn Công Nhàn làm Thương biện quân vụ Vĩnh Yên. Công Nhàn không tuân lệnh mà ở lại tiếp tục chiêu tập nghĩa dũng chống Pháp.
Theo lời truyền tụng trong dân gian vùng Long Hưng (Nước Xoáy) thuộc xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Hùng Dũng tướng quân Nguyễn Công Nhàn sau khi Định Tường thất thủ đã rút quân doanh về đây lập tổng hành dinh, chiêu tập nghĩa dũng để chống Pháp.
Hiện nơi này còn địa danh Rạch Dinh là nơi ghe Ô, ghe Sa của ông thường ra vào nơi Tổng hành dinh. Nơi đây hiện còn ngôi mộ Hùng Dũng Đại tướng quân và các quan quân hầu cận trên địa phận ấp Hưng Thành Tây.
Cũng trong sách trên, có đoạn khen ngợi Nguyễn Công Nhàn như sau: Công Nhàn xuất thân từ người tướng hiệu nhỏ, trải qua nhiều trận, mạnh mà có chí. Về phép hành quân, Nhàn có thể lấy số quân ít đánh số quân nhiều; lại khéo dỗ quân lính, không nỡ khinh, dối, cho nên ai cũng đều vui, làm việc đến đâu là có công.
Đào kênh Vĩnh An, dòng kênh nối sông Tiền với sông Hậu, đem lại lợi ích nhiều mặt, quốc phòng, kinh tế, thủy lợi, giao thông và phục vụ dân sinh.Tuy mang án oan về việc để mất thành Mỹ Tho nhưng Nguyễn Công Nhàn vẫn không thối chí mà quyết tâm tìm nơi hiểm địa để chiêu tập nghĩa dũng mưu báo phục, thậm chí kháng mệnh triều đình không đi Vĩnh Yên nhận chức mà quyết tử cố thủ để đền nợ nước ơn vua. Tấm lòng kiên trung của ông xứng đáng với danh hiệu Hùng Dũng Tướng.

Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, thì kênh Vĩnh An khởi đào từ tháng 10 năm 1843 đến tháng 4 năm 1844 thì xong. Con kênh nối từ sông Tiền (tại Tân Châu) đến sông Hậu (tại Châu Đốc) do nhân dân hai tỉnh là Vĩnh Long, An Giang cùng góp sức đào, vì lẽ đó, lúc ban đầu được mang tên Vĩnh An Hà. Sau này kênh còn có các tên khác là Long An Hà, Tân Châu Hà, kênh Vĩnh An, kênh Cũ. Nhiều tư liệu cho rằng kênh mang tên Vĩnh An Hà là vì có sự góp sức của nhân dân ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên là không đúng, vì chữ “Hà” nghĩa là sông chứ không phải chỉ tỉnh Hà Tiên.

Và cũng vì dòng kênh đem lại lợi ích nhiều mặt, quốc phòng, kinh tế, thủy lợi, giao thông và phục vụ dân sinh, nên sau này để tỏ lòng biết ơn, người ta đã đặt tên hai con đường bên bờ kênh là Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Công Nhàn.

Bị vu cáo bỏ thành Mỹ Tho

Việc Nguyễn Công Nhàn bị vu cáo bỏ thành Mỹ Tho nên dư luận bàng quang về sau không hiểu rõ có nhiều chê trách. Tương truyền, nhà thơ khuyết danh đã làm bài thơ sau: Có quan hùng dũng Nguyễn Công Nhàn – Hùng dũng nhưng mà lại nhát gan – Giặc tới Bến Tranh run lập cập – Tàu vô Cửa Tiểu chạy bò càng – Mưu thần trước biết ngang sông chắn – Kế giữ sau toan đóng củi hàng – Thất thủ muốn liều cho giữ tiết – Ngặt vì con, vợ bận chưa an.

Ngày 21/4/2016, hội thảo khoa học về Hùng Dũng tướng Nguyễn Công Nhàn diễn ra tại Đồng Tháp đã chính thức minh oan cho ông và các nhà sử học đã chứng minh bài thơ trên được sáng tác sau sự kiện thất thủ Mỹ Tho khoảng trên nửa thế kỷ.

Tại hội thảo, các đại biểu tập trung thảo luận về thân thế Hùng Dũng Tướng Nguyễn Công Nhàn và khẳng định, ông đã phục vụ trải qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Với tài thao lược, giỏi về binh pháp và kinh nghiệm trận mạc, ông lập được rất nhiều chiến công trong việc dẹp yên các cuộc bạo loạn của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và cuộc xâm lược của quân Xiêm nhiều lần xâm lấn biên giới Tây Nam Bộ và Trấn Tây thành. Ông còn là người chủ xướng việc đào kênh Vĩnh An ở An Giang, đem lại nhiều lợi ích kinh tế – xã hội thiết thực cho vùng biên giới thường xuyên bất ổn.

Hùng dũng tướng Nguyễn Công Nhàn từng được vua nhiều lần ban khen và thăng bổ nhiều chức vị quan trọng, vượt cấp, trước niên hạn như Lãnh binh Trấn Tây, Thự chưởng vệ sung Tham tán, Thự đô đốc An Giang, Tổng đốc Định Tường…

Năm 1867, Nguyễn Công Nhàn qua đời ở vùng Nước Xoáy – Long Hưng (An Giang), nay là xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Mộ phần của ông ở ấp Hưng Thành Tây, xã Long Hưng A, huyện Lấp Vò.

Hiện nay, ông được thờ ở đình Tân Phước (huyện Lai Vung), đền thờ tại xã Tân Thuận Tây (thành phố Cao Lãnh), đình Mỹ Tú (tỉnh Sóc Trăng), tại thị xã Tân Châu (tỉnh An Giang) có con đường mang tên ông. Lễ giỗ hàng năm của ông diễn ra vào ngày 15, 16/3, tại đền thờ ở xã Tân Thuận Tây.

NGUYỄN TRUNG THÀNH (khoahocdoisong.vn)