Đại sứ Israel chia sẻ bí quyết ‘nuôi tôm càng xanh toàn đực, máy đếm cá dưới ao’

Chia sẽ

Câu chuyện nuôi tôm càng xanh toàn đực hay máy xắt dưa hấu đến máy đếm cá dưới ao,… đã được Đại sứ Israel tại Việt Nam Nadav Eshcar chia sẻ kinh nghiệm tại diễn đàn Mekong Connet 2017 diễn ra tại Bến Tre. 

Nadav Eshcar chia sẻ kinh nghiệm tại diễn đàn Mekong Connet 2017 diễn ra tại Bến Tre.

“Theo Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm FDA của Mỹ, từ 2012-2016, gạo Việt Nam có 412 containers bị trả về bị phát hiện có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép. Nếu tính chung thị trường Mỹ và Bắc Âu, lượng gao bị trả về khoảng 500 containers… Xuất khẩu Việt Nam đang bước vào thời kỳ bị đòi hỏi nhiều về thương hiệu, trong đó an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề nổi cộm”. Đó là chia sẻ của GS. Nguyễn Quốc Vọng, Trường Khoa học ứng dụng, Đại học RMIT (Úc) tại Mekong Connet 2017 Phát triển tài nguyên bản địa kết hợp sức mạnh công nghệ diễn ra tại Bến Tre ngày 26/10/2017.

Chuyện nuôi tôm càng xanh toàn đực, máy đếm cá dưới ao

Chia sẻ tại hội thảo, ông Nadav Eshcar, Đại sứ Israel tại Việt Nam cho biết, tại Israel có công nghệ nuôi tôm càng xanh toàn đực độc đáo. Trong tự nhiên có khoảng 50% tôm đực, 50% tôm cái. Tôm đực nặng hơn tôm cái khoảng 200-300 gram. Các nhà khoa học đã chứng minh thời kỳ cá con giới tính chưa hình thành, chúng tôi nghiên cứu công nghệ sinh học tiêm Male Population vào tôm cái biến nó thành tôm đực. Sau khi phối giống ra tôm toàn đực, lợi nhuận tăng lên 25%. Công trình này được nghiên cứu tại Israel và phổ biến trên toàn thế giới. Tại An Giang, chúng tôi đã có một trại nhân giống tôm càng xanh toàn đực như thế, sau đó sẽ bán loại tôm giống này ra thị trường để các bạn có thể thụ hưởng thành quả này.

Một công nghệ khác chưa có trên thị trường, vừa được phát minh bởi nhóm nghiên cứu khoa học Israel. Khi xuất khẩu dưa lưới, dưa hấu sang châu Âu cần công nghệ cắt gọt sẵn để dùng ngay. Dàn máy xắt dưa hấu và dưa lưới chi cần ba thao tác, lần thứ nhất là cắt hút lõi hạt ra, lần cắt thứ hai cắt luôn vỏ ra. Mỗi trái cây khác nhau máy tự biết vỏ dày bao nhiêu để điều chỉnh lấy phần thịt, lần cắt thứ ba cắt thành khoanh tròn bằng nhau vừa tay cầm, đưa ra đóng giói và chuyển thẳng đến người tiêu dùng. Đây là thị trường rất tiềm năng….

Thường khi dọn ao, thùng nuôi tôm, cá, rất khó khăn để biết được trong ao có bao nhiêu cá con. Chúng tôi nghiên cứu ra cái máy có con mắt thần, trong vài giây sẽ chụp ra cái hình và đếm trong hình ra bao nhiêu con trong ao. Đây là những ví dụ nghiên cứu mà tôi muốn chia sẻ ứng dụng hàng ngày mà chúng tôi đã ứng dụng ở Israel.

Bài học từ hàm lượng chất xám của Israel và Nhật Bản

Theo GS. Nguyễn Quốc Vọng, hàm lượng công nghệ và chất xám của Israel và Nhật Bản đều rất cao, đó là vấn đề lớn mà nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt. Giải pháp nào cho nông nghiệp Việt Nam là một câu hỏi lớn đòi hỏi chúng ta phải tái cấu trúc lại cả về tư duy và cách làm?”.

  1. Nguyễn Quốc Vọng đưa ra cảnh báo: “Tôi muốn nói đến vấn đề xuất khẩu của Việt Nam. Vấn đề quan trọng là người tiêu dùng muốn gì, nhưng trong khoảng thời gian rất dài Việt Nam không nghĩ như vậy, cứ tập trung vào sản xuất mà không lo tiêu thụ. Xuất khẩu Việt Nam đang chậm lại, rau hoa quả đang vượt qua lúa gạo. Trung Quốc, Mỹ vẫn là thị trường lớn của Việt Nam”.

Đề cập đến vai trò của ĐBSCL, GS. Nguyễn Quốc Vọng phân tích: “Thủy sản Việt Nam cũng không an toàn. Cá basa Việt Nam mặc dầu bán rất rẻ, nhưng bị nuôi trong môi trường ô nhiễm là dòng sông Cửu Long. Thượng viện Hoa Kỳ đã đưa ra vấn đề hải sản Việt Nam bị nhiễm độc tại bốn tỉnh miền Trung sau vụ Formosa… Vai trò của ĐBSCL vô cùng quan trọng trong xuất khẩu, nhưng thu nhập bình quân 40 triệu đồng/người/năm, rất thấp so với cả nước là 47 triệu đồng/người/năm. Tại sao dân ĐBSCL nghèo như vậy? Tại sao đất đai, sông ngòi, biển cả Việt Nam đều ô nhiễm như vậy? Làm thế nào để thay đổi cái nhìn của nước ngoài về nông sản, thủy, hải sản Việt Nam? Làm thế nào để chứng minh được sản phẩm của mình là sạch, an toàn, có truy suất nguồn gốc, có chứng nhận quốc tế… Đó là trách nhiệm của các nhà khoa học, của chính quyền, của doanh nhân và của nông dân ĐBSCL”.

Chia sẻ kinh nghiệm từ Nhật Bản, bà Ino Mayu, chuyên gia nông nghiệp, nhà sáng lập tổ chức Seed fo Table cho biết: “Nhật Bản đã có nhiều chính sách hỗ trợ, tăng cường bảo vệ nhãn hiệu tập thể địa phương, đảm bảo quyền lợi của nhà sản xuất, có chỉ dẫn địa lý, có logo riêng để phân biệt hàng giả. Phát triển sản xuất kết hợp công nghệ để nuôi dưỡng kinh tế địa phương, còn “phần mềm” là chế độ khuyến khích tình nguyện viên phát triển cộng đồng địa phương. Thanh niên về nông thôn làm việc được chính phủ hỗ trợ kinh phí trong ba năm, sau đó muốn ở lại địa phương tiếp tục cống hiến, sẽ được chính quyền địa phương tạo điều kiện cho họ kiếm được công việc tại địa phương đó”.

Phát triển sản phẩm bản địa trước tiên phải tìm hiểu nhu cầu người tiêu dùng. Nhiều công ty của Nhật hợp tác với chính quyền địa phương và nhóm người tiêu dùng để nghiên cứu thị trường và xây dựng chiến lược, nếu không, làm ra sản phẩm chẳng bán được. Người Nhậtt tính cộng đồng rất cao, muốn hợp tác với người tiêu dùng, nhà sản xuất đều dễ dàng. Việt Nam tinh thần hợp tác chưa mạnh. Phát triển sản phẩm bản địa phải có tinh thần hợp tác cao mới làm ra sản phẩm bán được trên thị trường

Mô hình chợ rau rừng

Bà Ino Mayu cũng chia sẻ mô hình chợ rau rừng Sansai Ichi của làng Shimuka: “Khách du lịch tới đây được vô rừng hái rau, tối nấu nướng, ăn ở cùng người làng rất thú vị và vui. Chợ được họp tại ủy ban xã, khách du lịch tới thưởng thức các món ăn từ rau rừng, giúp người địa phương bán rau rừng cho du khách khác. Giới thiệu văn hóa, hệ sinh thái địa phương, trẻ em còn được làm bánh dày truyền thống của Nhật Bản, được ăn tại chỗ luôn, thu hút nhiều gia đình có trẻ em.

Công ty Towa Oka ở một vùng núi có dòng sông sạch nhất Nhật Bản, nhưng cuộc sống bà con rất vất vả, người ta vẫn giữ được giống bản địa nhiều loại rau. Công ty có nhà bếp Towa do đa số phụ nữ sản xuất tại nhà, thu hoạch tại rừng bán. Tour Omotenachi hái nấm đông cô cho khách du lịch vào mùa thu, làm đậu phụ sản xuất truyền thống. Khách tham gia nhiều chương trình theo mùa khác nhau, các món ăn cũng đa dạng theo mùa, nên khách du lịch trở lại nhiều lần, năm nào cũng tới. Một buffet sử dụng tất cả nguyên liệu tại địa phương như heo rừng, các loại rau thơm, mỗi suất tương đương 200 ngàn VND, với người Nhật không quá lớn, nhưng với người địa phương là giá trị. Tất cả các món sản phẩm chế biến như đậu phụ lên men, nước tương… đều là sản phẩm bản địa từ ông bà để lại. Cung cấp rau sạch cho các nhà trẻ địa phương, đồng thời dạy cho các cháu nấu những món ăn địa phương truyền thống”.

Chưa làm lớn được thì nên làm nhỏ nhỏ

Hội thảo dành nhiều thời gian bàn về liên kết vùng, tiểu vùng, để tạo sức bật mới cho ĐBSCL. TS. Trương Minh Huy Vũ, đại diện nhóm chuyên gia nghiên cứu ĐBSCL cho biết: “Đề xuất liên kết vùng phải có thêm liên kết tiểu vùng, tầm nhìn lớn nhưng phải bắt đầu từ những việc rất nhỏ, vì thực tế trong nhiều năm qua liên kết vùng chưa đi vào cuộc sống. Nhóm nghiên cứu chúng tôi cố gắng truyền tải đến xã hội từ thực tiễn nỗ lực của ĐBSCL trong vòng hai năm vừa qua. Chúng ta chưa làm lớn được thì nên làm nhỏ nhỏ. Tập trung bốn điểm quan trọng: Thích ứng thay vì chống chọi với biến đổi khí hậu; Chuyển đổi từ tư duy sản xuất sang tư duy kinh tế nông nghiệp, giảm lúa vụ ba; Thống kê có 2.500 quy hoạch vùng ĐBSCL, manh mún, nhỏ lẻ, chồng chéo lên nhau. Nỗ lực sắp tới là hoàn thiện bản quy hoạch mang tính tích hợp khung, xây dựng chiến lược hành động; Thúc đẩy liên kết vùng và liên kết tiểu vùng. Với các tiếp cận này, hình thành một số tiểu vùng đầu tiên như Tiểu vùng Đồng Tháp Mười, Tiểu vùng tứ giác Long Xuyên, Tiểu vùng Duyên hải…”.

Các đại biểu trao đổi thêm bên hành lang hội thảo. Ảnh: Kim Yến

Phân tích lý do vì sao các liên kết vùng chưa phát huy được tác dụng, TS. Trương Minh Huy Vũ cho biết: Liên kết này phải do các dịa phương tự nguyện cùng ngồi lại với nhau, biết hy sinh lợi ích trước mắt, cục bộ, để vì lợi ích bền vững. Yêu cầu tối thiểu của một kế hoạch liên kết vùng thành công là mỗi địa phương khi ngồi vào thảo luận phải hiểu rõ tại sao ngồi đây, có mong muốn tham gia liên kết vùng không? Tham gia cần nhận thức, thảo luận kỹ càng. Sau đó bàn viễn cảnh, tầm nhìn sắp tới trong 30 năm nữa thế nào? 

Từ tầm nhìn mới đi vào các hướng đi chiến lược, từ đó xác định lĩnh vực liên kết, sau đó là hành động cụ thể. Có thể mất thời gian hơn chút xíu nhưng nguyên tắc này là cần thiết để thuyết phục lẫn nhau và thuyết phục đối tác để phát triển trong tương lai… 

Liên kết vùng để phát triển bền vững, tập trung ba lĩnh vực, sự tham gia của toàn bộ thành phần trong xã hội, cùng hình dung tương lai của vùng trước khi ngồi vào làm, sử dụng lợi thế của vùng. Không chỉ dừng lại các tiểu vùng mà liên kết giữa các tiểu vùng với nhau, với trung ương và với thể giới…”.

Việc hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp sẽ có ý nghĩa rất lớn. TS. Vũ nói: “Vấn đề tích tụ ruộng đất luôn là khó khăn với ĐBSCL, chúng ta sẽ phân công rõ ràng một tỉnh sẽ làm vùng nguyên liệu, tỉnh làm trường đào tạo, tỉnh làm nhà máy…, hình thành chuỗi liên kết, ưu thế mỗi tỉnh sẽ nâng lên. Các chuỗi khác hình thành trên nông nghiệp có cơ hội phát triển như chuỗi cung ứng rau sạch cho TP.HCM, Cần Thơ. Chúng ta sẽ kiểm soát được vùng nguyên liệu cho heo, cho rau, cho cá… nếu làm được vùng nguyên liệu đủ lớn cho liên kết vùng”.

TS Vũ cũng phân tích một ví dụ cụ thể về mô hình hội quán nông dân đang thực hiện ở Đồng Tháp: “Một mô hình rất hay, với 23 hội quán, mỗi hội quán gắn với một lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Hình dung hội quán trong tương lai, tôi thấy nó hài hòa giữa yếu tố xã hội khi đưa người nông dân vào, về kinh tế, đó chính là một sàn giao dịch ý tưởng nếu đưa điện tử vào, những người nông dân sẽ ở giữa các chuỗi đó để cung cấp sản phẩm. Nếu áp dụng ở tiểu vùng, đó là cách thức tiếp cận để đưa hàng về nông thôn, cung cầu nông nghiệp giao dịch chính thức, giảm bài toán kém chất lượng cho người nông dân. ABCD cũng là một dạng liên kết tiểu vùng, mở ra không gian dư địa để giải bài toán lớn hơn cho nông nghiệp Việt Nam”.

Kim Yến (theo the leader)